Nguyên nhân phải phục hồi bình ắc quy

 

Nguyên nhân phải phục hồi bình Ắc quy :

- Do Ắc quy sử dụng trong thời gian lâu dài

- Do dung môi không thuần chất

- Do lỗi của quá trình nạp và bảo dưỡng Ắc quy dẫn đến có nhiều kết tủa rắn màu trắng xám trên bề mặt bản cực. Thành phần chủ yếu của kết tủa rắn này (thường chiếm đến 98%) là sulfat chì.

- Sự hiện diện quá nhiều của sulfat chì trên bề mặt bản cực ngăn cản quá trình điện hoá + suy giảm nghiêm trọng dung lượng + tăng nội trở của Ắc quy.

=> Một phần vật chất của bản cực dương Ắc quy mau chóng bị tan rã thành một đám bùn màu nâu đen đọng dưới đáy bình Ắc quy và tạo dòng điện rò bên trong.

=> Điều này đưa đến hệ quả là Ắc quy không thể nạp đầy + công suất cực đại giảm tệ hại và có khả năng không thể sử dụng được nữa. 

I/. Cấp độ hư hỏng : Chia làm 4 cấp.

  1. Giảm dung lượng : Là cấp độ hư hỏng nhẹ và thường gặp nhất.

Nguyên nhân

-  Do sử dụng trong điều kiện bảo dưỡng không tốt, hoặc để lâu không sử dụng

- Do để lâu không sử dụng => tác dụng hoá học giữa placque chì và sulfuric acid tạo nên kết tủa sulfat chì trong placque.

Biểu hiện : (sau khi nạp 10 giờ với dòng In = 1/8 dung lượng).

- Đo đủ volt qui ước.

- Ắc quy sử dụng trong thời gian ngắn đã cạn bình.

- Đo dung lượng ghi nhận mức độ sụt giảm mất khoảng 30% --> 40%.

 2. Ắc quy bị lão hoá : Rất phổ biến.

Dù sử dụng đúng chế độ và bảo dưỡng tốt trong khoảng thời gian lâu dài thì các tấm bản cực vẫn bị hao mòn do bột premium chì tan rã dần và rời khỏi tấm cực, đọng thành lớp bùn nâu dưới đáy bình Ắc quy. Dung lượng do đó cũng giảm sút. Dòng nạp bình thường trở nên quá lớn (ví dụ Ắc quy dung lượng 100 Ah nạp dòng bình thường 14A trong 8 giờ, nay chỉ còn dung lượng 50 Ah thì dòng nạp phải là 7A) càng tăng nhanh quá trình phân hoại placque (gọi là "rã lắc").

Biểu hiện :

- Các tấm placque mềm hoặc nhũn ra, hỗn hợp chì sẵn sàng rã thành bột nhão nếu có tác động vật lý. Bùn nâu lắng nhiều dưới đáy bình.

- Đủ volt qui ước hoặc có giảm chút ít.

- Đo dung lượng thấy giảm nhiều (đến 50%). Bình không dùng đúng và đủ tính năng như trước.

- Có Sulfat chì trên đầu cực âm. Màu cực âm và cực dương phân hoá rõ rệt (cực dương đen, cực âm xỉn màu và có dấu loang lổ).

3.  Ắc quy phân hoại :

Là Ắc quy ở các tình trạng hư hỏng (1) và (2) không được phục hồi và bảo dưỡng ngay mà để quá lâu. Ngoài ra còn do sử dụng Ắc quy đến cạn kiệt làm cho liên kết vật lý giữa các hạt chì premium bị phá hoại --> placque rã thành bột nhão chỉ còn trơ

lại khung hợp kim chì - antimoan. Còn có một nguyên nhân chủ quan là nạp Ắc quy lộn cực. Tình trạng đảo cực diễn ra làm phân hoá kết cấu vật lý của tấm placque.

 

Biểu hiện :

- Điện áp dưới ngưỡng 1V / cell (6V/bình 12V).

- Lớp bùn nâu dày đặc, có thể nối tắt các tấm placque.

- Đo không phát hiện được dung lượng. Không còn khả năng sử dụng.

- Biểu hiện ngoại quan tương tự (2) nhưng trầm trọng hơn.

 4. Hư hỏng hỗn hợp và hư hỏng khác.

Có thể một Ắc quy bị cả hai trường hợp (1) và (2) hoặc (1) và (3), hay (2) và (3). Ngoài ra còn có thể bị "rớt" cọc (đứt đầu cọc hoặc đứt cầu nối các cell) làm cho việc thông mạch nội trở bị gián đoạn.

 

 

Các phiên bản kĩ thuật khác của Ắc quy chì - acid

- Ắc quy - Lead - Acid (LA) là Ắc quy chì công nghệ kín khí AGM - VRLA 

- Ắc quy Lead - Carbone (LC / LCA) 

- Ắc quy Gel (LG hay Ắc quy chì công nghệ GEL / OPzV) có chế độ không sinh khí trong quá trình nạp và phóng điện (sử dụng); thường được gọi là Ắc quy - khô. 

Trong số đó thì Ắc quy Gel OPzV có hiệu quả và chất lượng tốt nhất.

II/. Bảo dưỡng, phục hồi

 

Trước khi sử dụng PowerBatt

Sau khi sử dụng PowerBatt

                                        

                                

  • Bản cực kết tinh thể sulfat , thành phần này không tham gia phản ứng hóa học và khiến bản cực bị chai.
  • Bản cực mềm và xốp hơn, trở lại trạng thái ban đầu, tăng khả năng tích điện và phóng điện

Hiện tượng sunfat hóa trên bản cực (soi dưới kính hiển vi)

 

  1. Hoạt động của chế phẩm: Chế phẩm PowerBatt®  dùng để bảo dưỡng ắc quy  chì với dung môi lỏng là axit sulphuric. (Không dùng cho các loại ắc quy gel)

  • Khi ắc quy được sử dụng thì tinh thể sulfat được tạo ra, nó làm giảm dung lượng của ắc quy. Chế phẩm phản ứng với sulfat này và giải phóng nó ra khỏi bề mặt của các điện cực của ắc quy. Bề mặt các điện cực vì thế được tăng lên có thể tới giá trị ban đầu (khi sản xuất).

  • Sulfat hóa điện cực là hiện tượng xảy ra song song khi sử dụng ắc quy chì. Chế phẩm làm tan lượng tinh thể sulfat  được tạo ra và đồng thời tạo một lớp bảo vệ trên bề mặt các điện cực, lớp này làm chậm lại quá trình sulfat hóa sau đó.

 

Sau 1 thời gian dài (ví dụ: 3 tháng hoặc lâu hơn) khi mà 1 ắc quy trạm phát, bình lưu điện không được sạc (không có tải ra ngoài), thì giá trị của công suất đo được của bình xạc điện có thể bị sai bởi những nguyên nhân sau:

  1. Năng lượng điện được tích luỹ trong các tấm điện cực một thời gian dài.

  2. Trong quá trình xả, ắc quy có khả năng phóng các điện tích, nhưng nó lại không thể sạc lại cùng công suất. Ngoài ra việc bị sulphat hoá cũng làm cho các điện cực bị thái hoá.

  3. Vì thế, sau khi sử dụng phương pháp phục hồi, công suất ắc quy có thể không được khôi phục như mong đợi.

B. Các bước sử dụng chế phẩm:

Không sử dụng PowerBatt cho ắc quy bị xung tín hiệu sạc (mức xung tín hiệu dưới 30% công suất ắc quy)

Chú ý không được cho nước cất vào ít nhất 14 ngày trước khi sử dụng PowerBatt , đảm bảo có đủ khoảng không trong ắc quy để cho dung dịch PowerBatt vào. Tuy nhiên, điều này sẽ không dẫn đến việc điện mức dưới mức cho phép.

PowerBatt  có thể sử dụng khi ắc quy đang trong trạng thái nghỉ.

  1. Không thêm dung dịch PowerBatt nếu ắc quy đang chịu tải (ví dụ như đang cung cấp điện cho hệ thống).

  2. Mở nắp cắc ngăn của ắc quy theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

  3. Kiểm tra và thêm bớt dung dịch trong tất cả các ngăn ắc quy sao cho dung dịch trong tất cả các ngăn vừa đủ che lấp các tấm bản cực (trong trường hợp cần thiết hãy đổ thêm nước cất  vào hoặc lấy bớt dung dịch ra)

  4. Cho chế phẩm PowerBatt®  vào từng ngăn của ắc quy theo dung lượng sản xuất của ắc quy theo số lượng 60ml/100Ah cho từng ngăn ắc quy (hãy xem bảng đối chiếu bên dưới). Nếu không thể cho hết lượng PowerBatt theo định mức thì, cho vào lượng lớn nhất có thể dung dịch PowerBatt mỗi ngăn, và phần còn lại thì cho vào lần bảo dưỡng sau.

  5. Cho chầm chậm dung dịch PowerBatt vào, để tránh rường hợp bị hết pin từ hoá chất phản ứng đột ngột. Chúng tôi khuyến cáo là nên chia lượng dung dịch PowerBatt  cho vào mỗi ngăn làm 3 – 4 lần, mỗi lần cách nhau 20 phút (trong điều kiện thời tiết nóng, thì là 30 phút). Tiếp tục quan sát nhiệt độ của chất điện phân, không thêm PowerBatt vào nếu nhiệt độ của các ngăn hơn 40 độ C.

  6. Chờ 60 phút, hoặc cho đến khi phản ứng hóa học kết thúc (Đến khi không còn sùi bọt nữa và nhiệt độ ắc quy bắt đầu hạ xuống)

  7. Đóng nắp các ngăn ắc quy lại theo hướng dẫn của nhà sản xuất

  8. Lặp lại quá trình này như sau:

  • Với ắc quy chịu tải 20 lần/ năm (tình trạng yếu điện thường xuyên) thì 12 tháng 1 lần

  • 18 – 24 tháng 1 lần cho ắc quy không hoạt động theo tải thường xuyên.